Trà (chè) là một giống cây trồng tên khoa học là Camellia sinensis. Với các chất đặc trưng trong lá mà chè được chế biến thành loại đồ uống phổ biến thứ 2 sau nước qua xử lý.
Nó làm bằng cách ngâm lá, chồi, hay cành của cây chè vào nước sôi từ vài phút đến vài giờ. Lá chè có thể được oxy hóa (ủ để lên men), sấy rang, phơi, hay pha thêm các loài thảo mộc khác như hoa, gia vị, hay trái cây khác trước khi chế vào nước sôi.
Trong phạm vi thức uống chế từ Camellia sinensis thì có bốn loại trà thật: Trà đen, Trà Ô Long, Trà xanh và Trà trắng.
Trà trắng là loại trà có màu trắng hoặc màu vàng nhạt, được làm từ lá và chồi non của cây Camellia sinensis. Hơn nữa, người ta gọi là trà trắng, có thể là do chồi non (chưa nở) vẫn còn đọng lại các sợi lông mịn màu trắng trong quá trình thu hoạch nên được hiểu nhầm đây là nguyên nhân làm cho nước trà có màu trắng.
Trà đen, chè đen là một loại trà. Thông thường, nó có vị mạnh mẽ hơn so với các loại khác của trà như trà xanh. Nó cũng có nhiều caffeine hơn. Tên gọi hồng trà (trà đỏ) bắt nguồn từ màu sắc của nước trà, được dùng phổ biến tại các nước Đông Á và một số nơi khác trên thế giới (có một loại trà khác cũng gọi là trà đỏ có chứa lá Rooibos).
Trà Ô Long là một trà truyền thống Trung Quốc (Camellia sinensis) sản xuất thông qua một quá trình độc đáo như phơi lá chè cho héo dưới ánh mặt trời và quá trình oxy hóa mạnh mẽ trước khi sấy. Phần lớn trà Ô Long, nhất là với trà chất lượng tốt, liên quan đến giống cây trồng trà riêng biệt với các giống cụ thể. Mức độ lên men có thể nằm trong khoảng từ 8% đến 85%, tùy thuộc vào sự đa dạng và phong cách sản xuất.
Trà xanh hay chè xanh được làm từ lá của cây trà chưa trải qua công đoạn làm héo và ôxi hóa giống với cách chế biến trà Ô Long và trà đen. Tại Việt Nam ngoài cách thưởng thức trực tiếp bằng cách ngâm lá Trà xanh vào nước sôi thì các nghệ nhân trà còn thực hiện chế biến Trà mạn bằng cách ủ men, rồi sao khô.
Bạn cần đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập